Nguyên tố crôm là một kim loại, có số hiệu nguyên tố là 24 trong Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, với khối lượng nguyên tử 52, cứng, mặt bóng, màu xám thép, không mùi, không vị, dễ rèn. Crôm có nhiều trong thiên nhiên, tạo thành những hợp kim có màu sắc rực rỡ, lôi cuốn sự quan tâm của nhiều người nhất là những nhà khoáng sản nhưng do hợp chất của chúng khá bền vững, khó hoà tan, rất khó tách riêng nên đến mãi cuối thế kỷ 18 mới được tìm ra.
Crôm có vai trò gì?
Cơ thể người trưởng thành chứa trung bình từ 1-5mg crôm. Trong máu người bình thường tỷ lệ crôm là 10mcg/l nhưng ở những người làm việc trong môi trường có crôm thì tỷ lệ này tăng lên, nhất là trong hồng cầu có thể lên đến 40-60mcg/l máu.
Nhu cầu hàng ngày của chúng ta từ 60-65mcg song trên thực tế chúng ta chỉ đưa vào cơ thể không hơn 40mcg dù rằng có chế độ ăn uống cân bằng nhưng có thể vẫn bị thiếu hụt crôm, nhất là phụ nữ có thai hoặc cho con bú (nhu cầu 55-60mcg, có tài liệu còn đề cập cao hơn: 120-200mcg!).
Crôm được bài tiết qua nước tiểu là chính (0,2-1mcg/ngày) và còn có ở trong phân vì không được hấp thu dễ dàng. Người đái tháo đường bài tiết nhiều crôm hơn.Crôm có trong thực phẩm như gan bò, lòng đỏ trứng, men bia, tỷ lệ thấp dưới 10mcg/100g, có nhiều hơn một ít trong ngô, khoai tây, bánh mỳ đen, đậu xanh, nấm, thịt bò. Crôm được đưa vào cơ thể qua thực phẩm, hô hấp, da. Khi ăn, crôm hấp thu ở ruột non với tỷ lệ 0,4-3%. Khi tuổi cao, sự hấp thu giảm dần. Chế độ ăn uống và một số chất cũng ảnh hưởng đến sự hấp thu crôm, có chất làm hạn chế (chất phytat), có chất làm tăng (histidin, acid glutamic...). Còn qua đường hô hấp, các dẫn chất crôm tan trong nước xuyên qua màng các phế nang còn các dẫn chất không tan được tích tụ ở mô phổi. Qua đường tiếp xúc, crôm không xuyên qua da mà tạo thành một phức hợp bền với protein ở các lớp bề mặt của da.
Crôm cần cho sự chuyển hoá các glucid và lipid. Riêng đối với insulin, crôm tạo thuận lợi cho sự liên kết insulin liên kết với cơ quan thụ cảm của nó, do đó giúp cho sự đồng hoá đường glucose của các tế bào, tạo sự điều tiết tỷ lệ insulin trong máu, làm tăng tính nhạy cảm của các mô đối với insulin, bình thường và ổn định glycemic (tỷ lệ đường trong máu). Nhưng crôm không có tác động làm giảm tỷ lệ đường trong máu mà chỉ hiệu quả khi có sự hiện diện của insulin. Khi cơ thể xuất hiện một sự đề kháng (insulin) thường đi đôi với sự thiếu hụt crôm. Trong Đại hội quốc tế về bệnh đái tháo đường lần thứ 18 (8/2003) tại Paris, nhiều báo cáo cho biết vi chất dinh dưỡng crôm (dưới dạng chronium picolisat) giảm đề kháng glucose và giảm lượng đường trong máu.
Trong một số trường hợp đái tháo đường nhận thấy thiếu crôm trầm trọng, khi bổ sung crôm có thể cải thiện tình trạng bệnh nhân đái tháo đường.
Crôm còn liên kết với sự chuyển hoá lipid, bổ sung crôm làm gia tăng hàm lượng cholesterol tốt (HDL) làm giảm cac glycerid và từ đó góp phần ngăn ngừa sự tích tụ mỡ bên trong các mạch máu, chống xơ vữa động mạch, điều hoà và giảm huyết áp ở người có tuổi. Một nghiên cứu thực hiện ở 8 nước châu Âu và Israel với 1.500 nam giới đã xác nhận: crôm bảo vệ tim mạch; nguy cơ nhồi máu cơ tim càng cao khi nồng độ crôm ở móng chân càng thấp. Bổ sung crôm có thể làm giảm một ít thể trọng trong béo phì do đường hấp thu sẽ được cơ thể sử dụng không chuyển hoá thành lipid và trữ trong các tế bào mới, muốn đạt yêu cầu trên phải dùng crôm liều cao hơn.
Tác hại của crôm
Những người làm công việc hàng ngày tiếp xúc với các chất crômat, bicromat, acid crômic dễ mắc bệnh nghề nghiệp: thừa cân. Nếu lượng crôm cao vào cơ thể qua đường tiêu hoá sẽ gây ngộ độc nặng có thể dẫn đến tử vong, còn qua đường tiếp xúc lâu dài sẽ bị loét da, viêm kết mạc, viêm mũi và ảnh hưởng đến hô hấp.
Để bổ sung Crom cho cơ thể bạn có thể sư dụng viên uống bổ sung vi lượng Beres Plus giúp bổ sung các vi lượng, khoáng chất, sắt, crom... cho cơ thể khỏe mạnh và chống lại tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng cho cơ thể


0 comments:
Post a Comment